|
|
|
|
|
 

 

 

 

Tiểu sử Đức đại lão hòa thượng Thích Đôn Hậu


 

I.Thân Thế

 

Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) là thế hệ thứ 8 của Phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp Danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ Cụ Túc Giới với Hòa Thượng Bổn Sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên, Huế, sau các pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên….

 

Thế danh của Đức Đại Lão Hòa Thượng là Diệp Trương Thuần, quê quán làng Xuân An, tổng An Đôn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn Xuân An, xã Triệu Thượng, quận Triệu Phong). Ngài xuất thân trong một gia đình nề nếp Nho Giáo, nhưng lại quy ngưõng một cách thuần thành về Phật đạo.

 

Thân phụ của ngài là cụ Diệp Văn Kỷ, một vị lương y nỗi tiếng, về sau xuất gia học Phật với Tổ Hải Thiệu, có pháp danh là Thanh Xuân, tự Sung Mãn, đắc pháp với Tổ Tâm Truyền, được pháp hiệu là Phước Điền; khai lập chùa Long An Quảng Trị, và kế thế trụ trì chùa Sắc Tứ Tịnh Quang. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Cựu mất sớm từ khi Ngài vừa lên chín tuổi.

 

II.Thuở Ấu Thời:

 

Đức Đại Lão Hòa Thượng sinh ngày 13 tháng Giêng năm Ất Tỵ (16-02-1905).Năm lên bảy tuổi, một hôm Tổ Tâm Tịnh về quê, đến nhà thăm, thấy Ngài diện mạo khôi ngô bèn tỏ lòng ưu ái, liền hỏi tên tuổi ngày tháng năm sinh. Suy gẩm một lát, Tổ dạy rằng: “Cháu Thuần diện mạo tuấn tú, lại thêm có bốn tiên đạo, nếu ở đời sẽ làm quan cao, chức lớn; nếu xuất gia chắc chắn sẽ trở thành danh Tăng hữu dụng cho Phật pháp. Nghe vậy thân sinh của Ngài vui mừng khôn xiết, bèn đặc biệt lưu tâm và mời thầy về nhà dạy riêng cho Ngài. Và cũng chính từ đó, lòng ngưỡng mộ của Tổ Sư Tâm Tịnh đã phát xuất ở Ngài.

 

Năm mười bảy tuổi, sau mười năm đèn sách, Ngài đã làu thông Nho Học. Nhưng tư tưởng và nhân sanh vũ trụ, phương pháp về lập thân xử thế của Lão, Nho đã không thỏa mãn được lý tưởng của người thanh niên trí thức ấy.

 

III.Thời Xuất Gia Học Đạo:

 

Chí xuất trần đã quyết, ngày 19 tháng sáu năm Quý hợi (01-07-1923) được sự chấp thuận của phụ thân, Ngài vào chùa Tây Thiên đảnh lễ Tổ Sư Tâm Tịnh xin được xuất gia. Lúc bấy giờ ngài vừa tròn mười chín tuổi.

 

Đúng một năm sau, cũng chính vào ngày vía Quan Âm Đại Sĩ

(Ngày 19 tháng 6 năm Giáp Tý- 1924) nhờ học với hạnh đều khả quan, chí với nguyện đều xứng đáng, Ngài được đặc cách cho thọ tam đàn Cụ Túc tại giới đàn Từ Hiếu, do chính Bổn Sư của Ngài làm Đàn Đầu Hòa Thượng.

 

Thọ giới được hai năm thì Bổn sư viên tịch (1926), Ngài bèn đến chùa Hồng Khê cầu pháp với sư huynh là Hòa Thượng Giác Viên.

Năm 1927, trường Thập Tháp tại Bình Định khai mở, do Tổ Phước Huệ, bậc danh tăng nỗi tiếng làm giáo thọ, Ngài liền cùng với một số vị khác như Hòa Thượng Chánh Huy, Chánh Thống, Viên Quang….vào đây tham học.

 

Năm 1932, Hội An Nam Phật Học ra đời, mở trường trung học, đại học Phật Giáo tại Tây Thiên, cung thỉnh Tổ Phước Huệ từ Bình Định ra làm Giáo Thọ. Với lòng hiếu học không ngừng, Ngài tiếp tục theo học chương trình đại học tại đây và được bầu làm thủ chúng cả hai trường. Cũng trong năm nầy, Ngài dạy bậc trung học tại Phật Học Đường Tây Thiên. Sau đó làm Giáo Thọ cho Phật Học Đường Báo Quốc và Ni Viện Diệu Đức, Huế.

 

Năm 1936, Ngài tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo.

 

IV. Sự nghiệp hoằng dương chánh pháp

1. Những trọng trách của Giáo Hội :

 

Ngay từ lúc còn ngồi ghế đại học tại Tây Thiên, Ngài đã được mời làm giảng sư của Hội Phật Học. Khi tốt nghiệp đại học Phật Giáo, với tuổi 32, Ngài đã trở thành một trong những hạt nhân tích cực của phong trào chấn hưng Phật Giáo. Là giáng sư nồng cốt, tiên phong của Hội Phật Học, Ngài đi giảng dạy khắp các tỉnh miền Trung nhất là tại Quảng Nam, Đà Nẵng.

 

Năm 1940 và 1942, Ngài đã hai lần sang thuyết giảng ở một số tỉnh có đông Việt Kiều tại Lào; đàm đạo với Vua Sải và tham lễ tại một số nơi ở Vương quốc Phật Giáo nầy.

 

Năm 1945, Ngài thay thế cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám giữ chức Chánh Hội Trưởng Hội Phật Học Thừa Thiên. Cũng trong năm nầy, Ngài nhận chức trụ trì Quốc Tự Linh Mụ, một di tích lịch sử đã bị đổ nát hoang tàn.

 

Năm 1947, cùng chung số phận với hàng loạt các cơ sở Phật Giáo danh tiếng trên cả nước bị đánh phá điêu tàn, chùa Linh Mụ cũng bị Pháp chiếm đóng, Ngài bị Pháp bắt, tra tấn và sau cùng bị bắt tự đào huyệt chôn mình, suýt bị bắn chết thì nhờ bà Từ Cung can thiệp mới được thả.

Năm 1948, Ngài làm Cố Vấn đạo hạnh Hội Phật Học Trung phần và làm Tuyên Luật Sư Đại Giới Đàn Báo Quốc, Huế.

 

Năm 1949, Ngài thay thế cụ Chơn An Lê Văn Định giữ chức Chánh Hội Trưởng Tổng Trị Sự Hội Phật Học.

 

Năm 1951, Ngài làm Đàn Đầu Hòa Thượng tại Chùa Ấn Quang mà trong giới đàn nầy quý Hòa Thượng Nhật Liên, Thượng Tọa Nhất Hạnh….là giới tử.

 

Năm 1952, Ngài được suy cử làm Giám Luật Tăng Già toàn quốc.

 

Năm 1956, Ngài thành lập và làm Chủ Nhiệm Liên Hoa Văn Tập.

 

Năm 1958, đổi tên Liên Hoa Văn Tập thành Liên Hoa Nguyệt San và cũng chính Ngài làm chủ nhiệm.

 

Năm 1963, Ngài tham gia hàng ngủ lãnh đạo phong trào đấu tranh chống chính sách kỳ thị, đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đêm pháp nạn 20 tháng 08 năm 1963 Ngài bị bắt tại chùa Diệu Đế và bị đưa đi giam giữ.

 

Năm 1964, Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo tại Sài Gòn, Ngài được bầu làm Chánh Đại Diện miền Vạn Hạnh.

 

Năm 1965, Ngài làm Yết Ma Đại Giới Đàn Từ Hiếu, Huế.

 

Năm 1966, Ngài hướng dẫn Tăng Ni tín đồ miền Trung tranh đấu cho Pháp nạn lần thứ hai dưới chế độ Thiệu Kỳ.

 

Năm 1967, Ngài đứng lên vận động Chư Tôn Đức như cố Hòa Thượng Thích Mật Hiển, cố Hòa Thượng Thích Thiện Siêu và cố Hòa Thượng Thích Mật Nguyện thành lập lớp chuyên khoa Phật Học 4 năm tại Chùa Linh Quang, Huế và chính Ngài trực tiếp dạy Luật cho lớp chuyên khoa nầy.

 

Năm 1968, Ngài bị Cộng Sản bắt tại Tổ Đình Linh Mụ, Huế vào lúc 01 giờ khuya ngày 20 tháng giêng năm Mậu Thân (17-02-1968), trong khi Ngài đang lên cơn suyển.

 

Năm 1975, Ngài trở về chùa cũ. Cũng trong năm nầy Ngài được cung thỉnh làm Cố Vấn Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo.

 

Năm 1977, Đại Hội Kỳ VII của GHPGVNTN tại Ấn Quang, Ngài được suy cữ chức vụ Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống.

 

Năm 1979, Đức Đệ Nhị Tăng Thống, Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, Chùa Thuyền Tôn, Huế viên tịch. Đại Hội kỳ VIII không tổ chức được để suy cử Đức Đệ Tam Tăng Thống vì nhà cầm quyền Cộng Sản không cho phép. Do đó, Hội Đồng Lưỡng Viện cung thỉnh Ngài kiêm nhiệm chức vụ Xử Lý Viện Tăng Thống.

 

Năm 1977, 1981 đến 1983, Ngài ba lần làm Đàn Đầu Hòa Thượng các Đại Giới đàn tại các chùa Báo Quốc và Trúc Lâm.

 

Năm 1978, Ngài chính thức gởi văn thơ phản đối Cộng Sản Hà Nội bắt giam trái phép những nhà lãnh đạo của GHPGVNTN. Cũng trong văn thơ này, Ngài cương quyết đòi Cộng Sản phải trả tự do vô điều kiện cho các nhà lãnh đạo Phật Giáo trong đó có cố Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ ….

 

Đặc biệt từ năm 1976 đến năm 1986, Ngài không ngừng giảng dạy Kinh Luật cho Tăng Ni ở Huế tại các chùa Linh Mụ, Báo Quốc và Linh Quang.

 

Ngài đã có công nuôi dạy, tác thành cho một số đông Tăng Ni, đệ tử, trong đó có những vị học thức cao, hữu dụng cho Phật Pháp và xã hội như quý Thầy Thích Trí Chơn (Hoa Kỳ), Thầy Thích Trí Siêu tức Lê Mạnh Thát.

 

2. Công trình dịch giải và biên soạn:

 

Dù Phật sự đa đoan và cuộc đời hành đạo bao giờ cũng gặp nhiều gian truân nghịch cảnh, Ngài cũng đã để lại một số tư liệu khiêm tốn nhưng có giá trị do chính Ngài dịch và chú giải, biên soạn như:

 

-Cách Thức Sám Hối

-Phương Pháp Tu Quán

-Tứ Nhiếp Pháp

-Cảm Ứng Tự Nhiên

-Đâu Là Con Đường Hanh Phúc

-Đồng Mông Chỉ Quán

-Sinh Mệnh Vô Tận Hay Là Thuyết Luân Hồi

-Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Sao

 

Ngoài ra còn có một số tác phẩm đăng trên các báo Viên Âm, Liên Hoa…và các văn bản quan trọng khác.

 

V. Những Năm Tháng Cuối Cùng:

-Năm 1986, tình hình chính trị xã hội trong nước bước qua một giai đoạn mới. Bao nhiêu ưu tư, thao thức của Ngài đối với tiền đồ Đạo Pháp đang có cơ may được thực hiện. Nhưng nổi khổ Ngài tuổi già sức yếu, xã hội vẫn còn lắm khó khăn, người cộng sự thì thưa vắng….Bao nhiêu ưu tư, dằn vật đã đưa đến cho Ngài cơn bệnh trầm trọng vào mùa thu năm 1986, mà tưởng rằng Ngài không qua khỏi. Nhưng sau 03 tháng chửa trị, sức khỏe dần dần bình phục, nhưng thể trạng của Ngài vẫn yếu hẵn so với trước! Sau đó Ngài đi tham lễ tại một số Tổ Đình như Tây Thiên, Thuyền Tôn, Báo Quốc….và Ngài về thăm lại chùa Long An Quảng Trị, nơi Ngài sinh trưởng, rồi trở về chuyên an dưỡng, tịnh tu cho đến giờ phút cuối cùng.

 

Đặc biệt, vào những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, và trước sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản khắp nơi trên thế giới, Ngài nhận thấy nhiều tổ chức Phật Giáo Việt Nam tại Hải Ngoại chưa kết thành một khối để hổ trợ cho đạo pháp tại quê nhà được phát triển. Vào ngày 10 tháng 09 năm 1991, Ngài đã gởi một bức Tâm Thư kêu gọi Tăng Ni đang tu học và hành đạo tại hải ngoại hãy thống hợp thực sự để thực hiện trọn vẹn sứ mạng của bậc Chúng Trung Tôn mà Phật Pháp và Lịch Sử đang giao phó.

 

Vào ngày 31 tháng 10 năm 1991, sau khi chư Tăng Ni tại Hải Ngoại đã đáp ứng tinh thần Tâm Thư, Ngài nhân danh Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống, thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã gởi đến toàn thể Tăng Ni và Phật tử đang tu học và hành đạo tại Hải Ngoại một bức Thông Điệp có 04 điều khuyến thỉnh vô cùng khẩn thiết cho một nền Phật Giáo Thống Nhất tại Hải Ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ.

 

Chỉ trong vòng một tháng pháp thể khiếm an, Ngài đã an tường thị tịch vào lúc 08 giờ tối ngày 23 tháng 04 năm 1992 nhằm ngày 21 tháng 03 năm Nhâm Thân, tại Tổ Đình Linh Mụ, Huế, Việt Nam. Lễ nhập kim quan đã được cử hành lúc 03 giờ chiều ngày 24 tháng 04 năm 1992, và lễ rước kim quan nhập Bảo Tháp vào lúc 07 giờ sáng ngày 03 tháng 05 năm 1992, nhằm ngày mồng 01 tháng 04 năm Nhâm Thân. Ngài thọ thế 88 tuổi.

 

VI. Những Tư Liệu Cần Biết Thêm:

 

Vào năm 1966, Ngài đã mạnh dạn tuyên bố tại chùa Diệu Đế, “Chúng tôi sẽ tổ chức một cuộc di cư cho toàn thể Tăng Tín Đồ Phật Giáo đến bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và sẽ trở vế tổ quốc khi nào có một chế độ đàng hoàng hơn, trong sạch hơn”.

Trong Thông Điệp Phật Đản năm 1982, Phật Lịch 2526, Ngài đã viết, “Có sống hòa hợp mới mong làm tròn nhiệm vụ của người con Phật đối với đại sự mở bày tri kiến Phật của Đức Từ Phụ, mới mong làm nên những sự nghiệp ích nước lợi dân. Điều này có nghĩa rằng: Sống hòa hợp là điều kiện tối yếu cho sự tiến tu, và sự tiến tu chỉ có thể được thực hiện nếu có sống hòa hợp”.

 

Trong lời giới thiệu Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Sao, Ngài đã cẩn trọng nhắc nhở, “Những ai thường thao thức cho sự giải thoát của chính mình và sự tồn tại mãi mãi của đạo Phật ở thế gian, thì việc cần yếu nhất là phải luôn luôn tôn trọng và nghiêm trì tịnh giới. Bằng ngược lại, tức là chính chúng ta đã làm cho chánh pháp bị lu mờ và bản thân chúng ta bị sa đọa chứ không phải do một thế lực nào có thể đày đọa chúng ta hoặc bắt chúng ta phải bỏ đạo”.

 

Ngài đã cảm tác bốn câu kệ sau đây:

 

“Hành thâm Tỳ Ni tạng

Giới thể tịnh trang nghiêm

Định lực tồi ma đạo

Tuệ quang chiếu giác viên”

 

Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ đã ca ngợi công đức bằng hai câu đối:

 

“Thánh giả thôn châm, thiên nhơn củng thủ

Không sanh thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu

 

Thầy Tuệ Sĩ dâng Ngài hai câu đối để tán thán công đức như sau:

 

Thiên chu mê vụ, cử trạo kích kích đào, thanh đoạn cửu thiên, trường xướng vô sanh ngã.

 

Kiều mộc tằng nham, phất vân khuy hạo nguyệt, ảnh phù không dã, thùy tri tức vọng tức chơn” .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
|
|
|
 

Copyright © 2005 linhmu.com. All rights reserved.